Pháo hoa Canh dao tet Tet Nguyen Dan taiviet.net-noel

Sản phẩm - dịch vụ

BẢN TIN THUẾ TUẦN TỪ 10/08-17/08/2019

Tác giả : AA006 | 24 - 08 - 2019 | 5:59 PM | 378 Lượt xem

1. Công văn 64602/CT-TTHT ngày 15 tháng 08 năm 2019 ban hành bởi Cục thuế thành phố Hà Nội về việc chính sách thuế GTGT:

Trường hợp Doanh nghiệp ký hợp đồng thầu phụ với Nhà thầu, trong hợp đồng thỏa thuận thuế nhập khẩu (NK), thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) và thuế GTGT tính trên phần thuế NK, thuế BVMT khi nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư mà trong nước đã sản xuất được và đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án thuộc trách nhiệm của nhà thầu thì khi nhận tiền từ Nhà thầu, doanh nghiệp lập phiếu thu giao cho nhà thầu. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định nghĩa vụ thuế TNDN phát sinh (nếu có) và không phải kê khai nộp thuế GTGT.

Nhà thầu căn cứ phiếu thu của doanh nghiệp để hạch toán chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

 

2. Công văn 64601/CT-TTHT ngày 15 tháng 08 năm 2019 ban hành bởi Cục thuế thành phố Hà Nội về việc thuế nhà thầu đối với hợp đồng gia công phần mềm:

Trường hợp Doanh nghiệp ký hợp đồng thuê nhà thầu nước ngoài gia công phần mềm, sau đó đội ngũ nhân viên ở Việt Nam sẽ thực hiện việc tiếp tục đóng gói và bán sản phẩm cho các đối tác trong nước thì thu nhập của nhà thầu nước ngoài được hưởng từ phí gia công phần mềm thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư 103/2014/TT-BTC , cụ thể:

1. Thuế GTGT: gia công phần mềm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

2. Thuế TNDN: Áp dụng tỷ lệ % thuế TNDN tính trên doanh thu là 5%.

Trường hợp nhà thầu nước ngoài phát sinh thu nhập từ bản quyền thì phải áp dụng tỷ lệ % thuế TNDN tính trên doanh thu là 10%.

 

3. Công văn 64071/CT-TTHT ngày 13 tháng 08 năm 2019 ban hành bởi Cục thuế thành phố Hà Nội về việc sử dụng hóa đơn điện tử:

- Về việc lập hóa đơn điều chỉnh khi chưa kê khai thuế:

Trường hợp Doanh nghiệp có HĐĐT đã lập và gửi cho người mua, người bán và người mua chưa kê khai thuế GTGT nếu phát hiện sai thì không thực hiện lập hóa đơn điều chỉnh. Doanh nghiệp chỉ được hủy khi có sự đồng ý và xác nhận của người bán và người mua. Doanh nghiệp (Người bán) thực hiện lập HĐĐT mới để gửi cho người mua, trên hóa đơn điện tử mới phải có dòng chữ “hóa đơn này thay thế hóa đơn số..., ký hiệu, gửi ngày tháng năm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính. Việc hủy HĐĐT có hiệu lực theo đúng thời hạn do các bên tham gia đã thỏa thuận. HĐĐT đã hủy phải được lưu trữ phục vụ việc tra cứu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Về chữ ký của người đại diện pháp luật và tiêu thức dấu người bán trên HĐĐT chuyển đổi sang hóa đơn giấy:

Trường hợp Doanh nghiệp tổ chức mô hình bán lẻ hàng hóa tại 03 điểm kinh doanh với nhiều chi dẫn đến việc luân chuyển hóa đơn điện tử chuyển đổi ra giấy về trụ sở chính để ký và đóng dấu của người bán gặp khó khăn, nếu việc chuyển đổi HĐĐT đáp ứng các điều kiện theo quy định của Thông tư số 32/2011/TT-BTC và hệ thống HĐĐT cho phép kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi HĐĐT sang giấy và chỉ được chuyển đổi 01 lần thì trên HĐĐT chuyển đổi không nhất thiết phải có dấu của người bán. Các tiêu thức khác vẫn phải đảm bảo theo quy định. Doanh nghiệp được ủy quyền cho cơ sở bán hàng ký trên HĐĐT chuyển đổi. Doanh nghiệp phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc chuyển đổi HĐĐT sang hóa đơn giấy.

- Về chữ ký điện tử trên văn bản thỏa thuận khi phát hiện sai sót trong quá trình lập HĐĐT:

Để tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp trong quá trình lập HĐĐT khi bán hàng hóa, trường hợp Doanh nghiệp phát hiện HĐĐT đã lập và gửi cho người mua có sai sót thì người bán và người mua được phép lập văn bản xác nhận sai sót bằng giấy có chữ ký của người mua và người bán. Doanh nghiệp (Người bán) thực hiện lập HĐĐT thay thế hoặc HĐĐT điều chỉnh sai sót theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính.

Các nội dung về việc miễn tiêu thức dấu người bán trên HĐĐT chuyển đổi sang hóa đơn giấy, về việc ký bằng tay trên văn bản thỏa thuận khi phát hiện sai sót trong quá trình lập HĐĐT đã được Cục Thuế TP Hà Nội gửi công văn xin ý kiến Tổng Cục Thuế, trường hợp hướng dẫn của Tổng cục Thuế khác với nội dung hướng dẫn của Cục Thuế TP Hà Nội, sẽ thông báo để Doanh nghiệp được biết và điều chỉnh theo quy định.

 

4. Công văn 63600/CT-TTHT ngày 12 tháng 08 năm 2019 ban hành bởi Cục thuế thành phố Hà Nội về việc thuế TNCN đối với khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động:

Trường hợp Doanh nghiệp và người lao động (ký hợp đồng lao động với Doanh nghiệp từ 03 tháng trở lên) thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 07/7/2019, ngày 26/7/2019 Doanh nghiệp thanh toán cho người lao động các khoản tiền lương tiền công, tiền phép, trợ cấp thôi việc, hỗ trợ khác thì Doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế TNCN như sau:

+ Đối với khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công cho thời gian trước khi chấm dứt hợp đồng lao động (5 ngày làm việc của tháng 7/2019), Doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiền từng phần.

+ Đối với khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động nghỉ việc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của người lao động.

+ Đối với các khoản chi hỗ trợ chấm dứt hợp đồng lao động, hỗ trợ thâm niên theo chính sách của Doanh nghiệp, nếu các khoản chi hỗ trợ này nằm ngoài quy định của Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội sau khi chấm dứt hợp đồng tại Doanh nghiệp, thì mỗi khoản chi từ hai triệu (2.000.000) đồng trở lên, Doanh nghiệp phải khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập chi trả.

 

5. Công văn 63594/CT-TTHT ngày 12 tháng 08 năm 2019 ban hành bởi Cục thuế thành phố Hà Nội về việc thuế TNCN và thuế TNDN đối với khoản công tác phí:

1. Về việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN): trường hợp Doanh nghiệp ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên với cá nhân cư trú thì Doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.

Trường hợp Doanh nghiệp trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân. Nếu cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi Doanh nghiệp để Doanh nghiệp làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.

2. Trường hợp Doanh nghiệp khoán chi công tác phí cho người lao động phù hợp với mức khoán chi quy định tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của doanh nghiệp thì Doanh nghiệp được tính khoản chi này vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Người lao động nhận khoản chi trong mức khoán của Doanh nghiệp thì không phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Trường hợp Doanh nghiệp chi cho người lao động cao hơn mức khoán chi thì phần chi cao hơn mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. 

Nguồn: Tài Việt tổng hợp 

Tham khảo thêm tin tức về văn bản pháp luật lĩnh vực thuế ở link dưới đây:

BẢN TIN THUẾ TUẦN TỪ 10/08 - 17/08/2019

Share: 

Hotline:

(84) 2253 250 250

Email:

[email protected]