Pháo hoa Canh dao tet Tet Nguyen Dan taiviet.net-noel

Tin tức

APA ( Advance Pricing Agreement) - Biện pháp để cơ quan thuế chống chuyển giá giữa các doanh nghiệp

Tác giả : AA003 | 10 - 01 - 2014 | 2:46 PM | 2785 Lượt xem

Ngày 20/12/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 201/2013/TT-BTC hướng dẫn doanh nghiệp  áp dụng phương pháp thỏa thuận trước về giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế và có hiệu lực thi hành từ ngày 05/02/2013.

 

1.      Khái niệm APA

APA là thoả thuận bằng văn bản giữa cơ quan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký Hiệp định thuế cho một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn cứ tính thuế, phương pháp xác định giá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường. APA được xác lập trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp.

2.      Đối tượng áp dụng APA

- Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi chung là  người nộp thuế) là đối tượng nộp thuế của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện khai thuế theo phương pháp được quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất), thực hiện giao dịch kinh doanh với các bên có quan hệ liên kết và có đơn đề nghị áp dụng APA trước khi thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho năm đầu tiên của giai đoạn đề nghị áp dụng APA. Người nộp thuế là đối tượng áp dụng APA thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư này.

- Cơ quan thuế bao gồm: Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, thành phố.

- Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc áp dụng APA trong quản lý thuế.

3.      Phân loại APA

Bản chất của APA có thể xem là cam kết thực hiện giao dịch theo những phương thức đã được tiên liệu trước và được cơ quan quản lý nhà nước về thuế chấp thuận. APA gồm 3 loại:

Thỏa thuận đơn phương (Unilateral ): là APA được đàm phán và ký kết giữa cơ quan thuế Việt Nam và người nộp thuế đứng đơn đề nghị áp dụng APA.

Tuy nhiên, thỏa thuận này sẽ có thể dẫn đến tình trạng trùng thuế. Và do đó, loại APA này chỉ phù hợp để áp dụng đối với những giao dịch trong nước (không có hoạt động xuất nhập khẩu) hoặc với những giao dịch liên kết, xuất nhập khẩu nhưng không có rủi ro về chuyển giá, trùng thuế, các giao dịch đơn giản...

Thỏa thuận song phương (Bilateral)/ Thỏa thuận đa phương (Multilateral): APA song phương, đa phương là APA được đàm phán và ký kết giữa cơ quan thuế Việt Nam, người nộp thuế và một hoặc nhiều cơ quan thuế đối tác có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế đứng đơn đề nghị áp dụng APA trên cơ sở Hiệp định thuế.

Ưu điểm của hai loại này là tránh tình trạng trùng thuế. Loại thỏa thuận này phải trải qua một quá trình gồm các thỏa thuận khác nhau (MAP APA) và ít nhất là có 03 thỏa thuận:

i) thỏa thuận giữa cơ quan thuế trong nước với cơ quan thuế nước ngoài,

ii) thỏa thuận giữa doanh nghiệp xuất khẩu với cơ quan thuế nước xuất khẩu;

iii) thỏa thuận giữa doanh nghiệp nhập khẩu với cơ quan thuế nước nhập khẩu.

Đây là hai loại APA quan trọng vì thể hiện rõ nhất bản chất của APA là công cụ giúp giải quyết hiện tượng chuyển giá. Bilateral khác Multilateral là loại thứ nhất có sự tham gia của một cơ quan thuế nước ngoài còn loại thứ hai là có sự thỏa thuận với từ hai cơ quan thuế nước ngoài trở lên. Tuy nhiên, về bản chất và ý nghĩa của hai loại này là giống nhau.

4.      Các đặc trưng của APA:

- APA là thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, không phải là sự bắt buộc của cơ quan thuế với người nộp thuế.

- APA áp dụng cho những giao dịch xác định trong tương lai trong một khoảng thời gian nhất định (thường 3- 5 năm).

- APA có hiệu lực với các bên tham gia.

- APA là một thoả thuận xác định trước một nhóm chỉ tiêu phù hợp (ví dụ phương pháp xác định giá thị trường, công ty/giao dịch tương đương và các điều chỉnh cần thiết, các giả định trọng yếu liên quan đến các sự kiện trong tương lai) để xác định giá chuyển nhượng cho các giao dịch nhất định trước khi thực hiện các giao dịch đó trong một thời kỳ nhất định.

- Khi APA được ký kết, không cần điều chỉnh giá chuyển nhượng nếu đối tượng nộp thuế tuân theo các điều khoản của thoả thuận.

- Trong bối cảnh Hiệp định tránh đánh thuế hai lần có tính pháp lý cao hơn nội luật, cho phép áp dụng APA trên cơ sở Quy trình thoả thuận song phương trong trường hợp nội luật không có quy định về APA.

- Việc áp dụng APA cần được áp dụng linh hoạt, bởi vì nếu chương trình APA cố định thì có thể không phản ánh đầy đủ các điều kiện theo nguyên tắc giá thị trường.

- Cơ quan thuế cần đảm bảo rằng họ không yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp thông tin nhiều hơn các nội dung bắt buộc của hồ sơ APA.

- Nếu đối tượng nộp thuế rút đơn đề nghị APA hoặc nếu hồ sơ APA của đối tượng nộp thuế bị từ chối sau khi xem xét tất cả các yếu tố, những thông tin không đáng tin cậy do người nộp thuế cung cấp sẽ không được coi là hợp lý trong bất kỳ cuộc thanh tra nào.

- Các thông tin mà người nộp thuế báo cáo cho cơ quan thuế phải được bảo mật. Cơ quan thuế nên đảm bảo tính bảo mật của những thông tin và tài liệu nhạy cảm được nộp trong quá trình thực hiện APA.

- APA nên được thực hiện trên cơ sở song phương, đa phương và không nên thoả thuận đơn phương, trừ trường hợp đã thực hiện tham chiếu đến một APA đơn phương cụ thể (tuy nhiên, APA đơn phương cũng có lợi thế nhất định, vì thời gian đàm phán ngắn hơn và phù hợp với doanh nghiệp quy mô nhỏ, gặp ít rủi ro trong vấn đề chuyển giá…).

- Bản chất của APA là xác định những yếu tố quyết định để đưa ra được mức giá thị trường cho những giao dịch trong tương lai. Vì thế, những giả định về điều kiện kinh doanh là hết sức quan trọng. “Người nộp thuế được yêu cầu mô tả những giả thiết trọng yếu mà trong đó khả năng áp dụng phương pháp để phản ánh chính xác giá thị trường trong tương lai. Thêm vào đó, người nộp thuế sẽ phải giải thích rằng phương pháp mà họ đã lựa chọn có thể thỏa mãn với nhưng thay đổi trong giả thiết. Những giả thiết này được coi là quan trọng bởi vì những điều kiện thực sự xảy ra ở thời điểm thực hiện có thể trái với những gì mà người ta đã giả thiết lúc đầu. Chẳng hạn, những yếu tố như công nghệ mới, luật lệ, quy mô thị trường có thể làm ảnh hưởng đến những giả thiết đã thỏa thuận sẽ không còn sát với giá thị trường. Trong trường hợp này, thỏa thuận sẽ bị kiểm tra lại hoặc hủy bỏ. Do đó, trong quá trình áp dụng APA, các bên phải dựa trên những tài liệu đáng tin cậy và độc lập. Những giả thiết đó phải phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của người nộp thuế, môi trường kinh doanh, phương pháp áp dụng và loại giao dịch được điều chỉnh”[4]. Thông thường những giả thiết này gồm các nội dung như: những sắc thuế trong nước và quốc tế; những vấn đề về hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật, và các quy định có liên quan của Chính phủ; những giả thiết về điều kiện kinh tế, thị phần…; phân tích về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải; vấn đề quản trị doanh nghiệp và tài chính…

5.      Trình tự giải quyết đề nghị áp dụng APA (quy định cụ thể từ Điều 7 đến Điều 16  TT 201/2013/TT-BTC)

Trình tự giải quyết đề nghị áp dụng APA bao gồm các giai đoạn chính sau:

a) Tham vấn trước khi nộp hồ sơ chính thức;

b) Nộp hồ sơ chính thức;

c) Thẩm định hồ sơ APA;

d) Trao đổi, đàm phán các nội dung APA;

đ) Ký kết và lưu hành APA.

6.      Đánh giá ưu, nhược điểm của APA:

Ưu điểm:

- Đối với người nộp thuế: người nộp thuế chủ động với khoản tiền thuế phải nộp bằng cách tăng cường khả năng dự đoán của việc xử lý thuế trong các giao dịch quốc tế; đối với trường hợp Bilateral/Multilateral APA có thể tránh hiện tượng trùng thuế; giảm được chi phí kiểm toán bởi vì khác với phương pháp xác định giá truyền thống là kiểm tra các giao dịch đã thực hiện xong thì ở APA là một thỏa thuận giữa các bên; APA có thể làm giảm các chi phí tuân thủ, doanh nghiệp sẽ chuyên tâm vào việc kinh doanh hơn.

- Đối với cơ quan thuế: khi áp dụng APA, cơ quan thuế có thể xác định chắc chắn số thuế phải thu vì những thông tin liên quan đã được công khai, minh bạch; góp phần hạn chế hiện tượng chuyển giá.

Nhược điểm:

- Việc thỏa thuận APA là rất phức tạp, vì thế thực tiễn chỉ áp dụng đối với những công ty lớn.

- Khi đàm phán trên cơ sở đơn phương, APA không thể đạt đến độ chắc chắn cao, bởi vì các nước khác có thể không đồng ý với kết quả đàm phán

- Việc đưa nhiều nước cùng tham gia APA là rất khó khăn, nhất là đối với những quốc gia mà mức thuế rất thấp hoặc không đánh thuế nhập khẩu.

- Người nộp thuế phải cung cấp quá nhiều thông tin. Mặc dù điều khoản bảo mật thông tin được đưa vào APA, nhưng doanh nghiệp vẫn không muốn tiết lộ những thông tin mật của mình như công thức chế biến, cách quản trị rủi ro... nhất là khi những thông tin ấy được phục vụ cho lợi ích của đối thủ cạnh tranh.

- Thị trường luôn biến đổi và việc xác định trước giá có thể ảnh hưởng đến số tiền thuế thu được khi có biến động thị trường

- Thỏa thuận APA không làm cho doanh nghiệp tránh được việc kiểm toán liên quan đến các vấn đề tài chính khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của APA.

- Nếu áp dụng APA thì sẽ phải đào tạo một đội ngũ cán bộ thuế đủ chuyên môn để tiến hành đàm phán các APA vì khác với các phương pháp truyền thống, APA là một thỏa thuận và liên quan đến rất nhiều vấn đề về tài chính, chuyên môn kỹ thuật trong các giao dịch.

- Chi phí và thời gian để thiết lập một APA là khá lớn, tuy nhiên thời hạn sử dụng rất hạn chế.

 

Theo Tài Việt


Tag:
Share: 

Hotline:

(84) 2253 250 250

Email:

[email protected]